Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TỪ ĐIỂN


    Tra theo từ điển:



    WEBSITE CỦA TUỔI ƯỚC MƠ - HÃY BIẾN ƯỚC MƠ THÀNH HIỆN THỰC- CHÚC CÁC HỌC SINH THI ĐẠT KẾT QUẢ CAO TRONG CÁC TRƯỜNG CHUYÊN

    Chào mừng quý vị đến với website của JanTho

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > LỊCH SỬ TOÁN HỌC >

    LỊCH SỬ SỐ THẬP PHÂN

    alt

    Số thập phân được sử dụng ngày nay bắt nguồn từ hệ thập phân (còn gọi là hệ ghi cơ số 10), một trong những hệ ghi số được loài người tìm ra sớm nhất. Hệ thập phân ra đời do nhu cầu ghi lại các số đếm và dựa theo cấu trúc sinh học thuận tiện của con người là có 10 ngón tay (hay 10 ngón chân).

     Lịch sử ghi nhận nền toán học Ấn Độ cổ đại (khoảng 3.000 - 2.500 năm trước Công nguyên (TCN) đã sử dụng hệ cơ số 10. Ban đầu, hệ thập phân được kí hiệu bởi 9 chữ số từ 1 đến 9 và dấu chấm "." biểu thị cho số 0.

     Những bản khắc sớm nhất được tìm thấy thì số 0 được người Hinđu sử dụng từ khoảng 400 năm TCN. Lại có truyền thuyết cho rằng số 0 xuất hiện ở Ấn Độ bắt nguồn từ tôn giáo. Ngày nay, phần lớn người ta gọi dãy ký tự ghi số từ 0 đến 9 là chữ số Ả Rập bởi nó được người Ả Rập truyền bá vào Châu Âu. Tuy vậy, tên gọi đúng của nó phải là chữ số Ấn Độ hay chữ số Hinđu. Khởi đầu, cuốn sách "Sự hình thành của Vũ trụ" được nhà toán học Ấn Độ Brahmagupa viết năm 628 đã sử dụng các kí hiệu hệ thập phân của người Hinđu. Năm 776, cuốn sách được giới thiệu và dịch sang tiếng Ả Rập. Hệ thống chữ số này được hai nhà toán học Al-Khawarizmi và Al-Kindi tiếp tục truyền bá sâu rộng sang Trung Đông và phía Tây. Người ta đã kết hợp hệ thập phân với phân số Ai Cập ra đời trước đó (là những phân số có tử số bằng 1, xuất hiện từ cách đây gần 4.000 năm) để hình thành số thập phân. Đến thế kỷ thứ X, số thập phân xuất hiện. Đó là những số biểu thị các số bất kỳ sang phân số có mẫu số là 10, 100, 1000… và ký hiệu dưới dạng dãy số như những số đếm. Chẳng hạn, thay vì viết phân số 1550=310, ta viết số thập phân 0,3. Đến đầu thế kỷ XIII, hệ ghi số này được truyền bá, sử dụng rộng rãi ở Châu Âu bởi nhà toán học người Italia Fibonacci.

     Người ta gọi những dãy chữ số trước dấu phẩy là phần nguyên, dãy sau là phần phân. Ví dụ phân số 213100=2,13 thì phần nguyên là 2 và phần phân là 13. Người ta gọi số đứng ngay sau dấu phẩy (ở đây là số 1) là hàng phần mười, nếu có những chữ số tiếp theo thì là hàng phần trăm (số 3) rồi đến hàng phần nghìn…

     Trong chương trình học ở Việt Nam hiện tại, chúng ta sử dụng dấu phẩy "," để ngăn cách phần nguyên và phần phân. Tuy vậy, nhiều nơi sử dụng dấu chấm ".". Phổ biến nhất có lẽ là trên các hệ thống máy tính. Khi đó 213100=2.13 còn 4021300110=4,021,300.1.

     Có những số khi đổi sang số thập phân có hữu hạn chữ số như 310=0,3. Có số thì vô hạn nhưng lặp lại như 43=1,33… Hai loại số này đều là những phân số hay số hữu tỷ. Lại có những số khi đổi sang số thập phân được số vô hạn nhưng không tuần hoàn, được gọi là số vô tỷ (chẳng hạn số Pi - π).

     Bài tập nhỏ: Bạn hãy đổi số thập phân vô hạn gồm các dãy số 68 lặp lại 0,6868… sang phân số.

     (Theo hanoimoi)


    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Jan Thơ @ 11:12 16/04/2012
    Số lượt xem: 967
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cám ơn Quý Khách đã ghé thăm website Trạng Nguyên.Chúc Quý Khách có một ngày học tập và làm việc thành công.